Chuyển đến nội dung chính

Tìm hiểu về bệnh đa u tủy xương

Đa u tủy xương là một căn bệnh ác tính xuất phát từ tương bào – một thành phần của bạch cầu trong máu. Từ một tương bào bất thường ban đầu, chúng có thể nhân lên thành nhiều tương bào bất thường khác. Trong quá trình phát triển, các tế bào bất thường này sẽ tiết ra một kháng thể đặc biệt còn được gọi là protein M – cơ sở cho chẩn đoán và tiên lượng bệnh

Theo thời gian, tương bào bất thường phát triển đến số lượng quá lớn sẽ tập trung ở tủy xương, làm lấn át những dòng tế bào máu bình thường khác như tiểu cầu, hồng cầu. Các tế bào này cũng có thể tập hợp với nhau ở nhiều vị trí xương đặc, hình thành đa u tủy xương, còn nếu nó chỉ hình thành ở một vị trí đơn độc thì được gọi là u tương bào.

Tỷ lệ mắc bệnh đa u tủy xương là 3 – 4 người/100.000 dân, chỉ chiếm 1- 2% các bệnh ác tính nhưng nó lại có tỷ lệ tử vong khá cao. Hàng năm ở Việt Nam có khoảng 100 người mắc phải căn bệnh này và trong số đó có đến 85 người tử vong ngay sau đó. 

Nguyên nhân gây bệnh cho đến nay vẫn chưa được các nhà khoa học làm rõ nhưng các nghiên cứu về dịch tễ học đều cho thấy: tuổi mắc bệnh thường trên 40, nam giới có nguy cơ mắc đa u tủy xương cao hơn nữ giới, người da đen có nguy cơ mắc bệnh cao gấp 2 lần so với người da trắng, tuổi mắc bệnh cũng sớm hơn và tiếp xúc với liều thấp phóng xạ có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh.

Triệu chứng và cách điều trị

Do nguồn gốc và chức năng nên tương bào có mặt ở hầu hết các cơ quan trong cơ thể, nên khi tăng sinh ác tính thì nó có thể biểu hiện triệu chứng ở nhiều bộ phận khác nhau. Bệnh thường tăng dần triệu chứng từ những biểu hiện tản mạn như suy sụp toàn thân, biểu hiện ở xương, máu, thận, thần kinh,…

Tìm hiểu về bệnh đa u tủy xương
Tìm hiểu về bệnh đa u tủy xương


Có khoảng 90% bệnh nhân đa u tủy xương có triệu chứng đau xương cột sống, lồng ngực, chậu hông, đau nhiều khi vận động và giảm khi nghỉ ngơi, càng về sau càng đau nặng và liên tục, có cơn đau theo kiểu ép rễ thần kinh. 50% trường hợp có biểu hiện gãy xương tự nhiên ở xương sườn, xương ức, xương đòn, bị lún và di lệch cột sống gây gù, vẹo và triệu chứng này chủ yếu được phát hiện khi chụp x-quang. 

Số ít bệnh nhân đa u tủy xương có dấu hiệu xuất hiện các khối u mềm không đau nổi trên nền xương, đường kính từ 0,5 – 2cm, chủ yếu xuất hiện ở xương ức, xương sọ, xương đòn, xương bả vai, xương cột sống,… và ít thấy hơn ở xương chân, tay.

Biểu hiện toàn thân của bệnh đa u tủy xương là: cơ thể gầy sút, mệt mỏi, chán ăn, sốt dai dẳng kéo dài, da xanh tái; tổn thương thận – suy thận mãn tính; thiếu máu, xuất huyết do giảm tiểu cầu; tổn thương thần kinh như viêm đa day thần kinh, ép tủy và rễ thần kinh, tổn thương các dây thần kinh sọ não, tổn thương đáy mắt, tăng áp lực nội sọ; tăng calci máu,…

Hầu hết bệnh nhân đa u tủy xương được điều trị bằng hệ thống hóa chất để kiểm soát khối u và điều trị triệu chứng để ngăn ngừa nguy cơ biến chứng. Tỷ lệ sống trung bình của người bệnh đa u tủy xương khá thấp: 15% tử ong sau 3 tháng phát hiện bệnh, 15% tử vong trong vòng 1 năm, 70% còn lại diễn biến mãn tính từ 2 – 5 năm.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Bệnh viêm cột sống dính khớp có di truyền không?

Người bị viêm cột sống dính khớp giai đoạn đầu thường có cảm giác đau thắt lưng, lan xuống 2 chi hoặc lan lên đốt sống cổ. Chính vì thế mà nhiều người thường nhầm lẫn bệnh với đau thần kinh tọa và viêm khớp dạng thấp. Viêm cột sống dính khớp là một căn bệnh mạn tính nguy hiểm, các triệu chứng khởi phát rất mờ nhạt và khó phát hiện. Do đó viêm cột sống dính khớp có di truyền không là lo lắng của nhiều người bệnh. Đáp án của câu hỏi này như thế nào, và người bệnh phải làm gì khi biết mình mắc bệnh? Chúng ta hãy cùng tìm hiểu trong bài viết sau đây.  Các triệu chứng tiến triển và không ngừng nặng hơn, trong một khoảng thời gian nào đó nó có thể chấm dứt nhưng bệnh không khỏi hoàn toàn. Viêm cột sống dính khớp nếu không được điều trị có thể khiến bệnh nhân bị dính khớp, gù lưng, tê liệt hai chân và làm giảm khả năng sinh sản. Giống như nhiều bệnh về xương khớp khác, viêm cột sống dính khớp hiện nay cũng chưa tìm được nguyên nhân cụ thể. Một số nghiên cứu và suy đoán ban đầ...

Trị thoát vị đĩa đệm bằng thuốc nam

Bệnh thoát vị gây nên những cơn đau nhức thường xuyên và âm ỉ. Tùy theo từng vị trí bị thoát vị người ta có thể chia ra từng trường hợp khác nhau, về cơ bản bệnh thoát vị đĩa đệm được chia thành hai vùng Bệnh thoát vị đĩa đệm cột sống cổ: Bệnh nhân thường có triệu chứng đau dọc vùng gáy, đau mỏi nhừ kéo sang bả vai và cánh tay. Có những bệnh nhân có cảm giác tê bì dọc cánh tay, thậm chí kéo tới làm tê bì mất cảm giác của bàn tay, đốt ngón tay. Có người bệnh còn có triệu chứng đau bốc lên đỉnh đầu, thậm chí hoa mắt, chóng mặt, đau tức hốc mắt. Bệnh thoát vị đĩa đệm thắt lưng: Bệnh nhân có biểu hiện đau vùng ngang thắt lưng, đau liên sườn. Ngoài ra bệnh nhân còn có biểu hiện đau dọc vùng mông kéo xuống chân, có thể gây tê bì chân hoặc có nhưng cơn đau rút chân khi cúi, ngửa.. Có người bệnh khi ngồi lâu, thường bị những cơn đau lưng dữ dội, phải nằm nghiêng bất động. Chữa bệnh thoát vị đĩa đệm bằng thuốc nam Chúng tôi sẽ giới thiệu cho bạn đọc 2 bài thuốc nam thành phần dư...

Loạn dưỡng cơ

Nghiên cứu kỹ tiền sử gia đình về bệnh cơ có thể giúp bác sĩ chẩn đoán bệnh. Ngoài nghiên cứu tiền sử gia đình và khám thực thể, bác sĩ có thể dựa vào các khám xét sau để chẩn đoán loạn dưỡng cơ: Xét nghiệm máu: Các cơ bị tổn thương giải phóng enzym creatin kinase (CK) vào máu. Nồng độ CK trong máu cao gợi ý một bệnh cơ như loạn dưỡng cơ. Ghi điện cơ: Một điện cực hình kim mảnh được xuyên qua da vào cơ để kiểm tra. Ðo hoạt động điện khi nghỉ ngơi và khi căng cơ nhẹ. Những thay đổi trong mô hình hoạt động điện có thể xác định bệnh cơ. Có thể xác định sự phân bố của bệnh dựa trên việc kiểm tra các cơ khác nhau. Sinh thiết cơ: Một mẫu cơ nhỏ được lấy để phân tích trong phòng thí nghiệm. Việc phân tích này phân biệt loạn dưỡng cơ với các bệnh cơ khác. Các xét nghiệm đặc hiệu có thể xác định dystrophin và các chỉ báo khác có liên quan với những dạng loạn dưỡng cơ đặc trưng. Xét nghiệm gen: Một số dạng loạn dưỡng cơ có thể được chẩn đoán bằng cách xác định gen bất thường thông qua p...