Chuyển đến nội dung chính

Bệnh viêm cột sống dính khớp có di truyền không?

Người bị viêm cột sống dính khớp giai đoạn đầu thường có cảm giác đau thắt lưng, lan xuống 2 chi hoặc lan lên đốt sống cổ. Chính vì thế mà nhiều người thường nhầm lẫn bệnh với đau thần kinh tọa và viêm khớp dạng thấp.

Viêm cột sống dính khớp là một căn bệnh mạn tính nguy hiểm, các triệu chứng khởi phát rất mờ nhạt và khó phát hiện. Do đó viêm cột sống dính khớp có di truyền không là lo lắng của nhiều người bệnh. Đáp án của câu hỏi này như thế nào, và người bệnh phải làm gì khi biết mình mắc bệnh? Chúng ta hãy cùng tìm hiểu trong bài viết sau đây.

 Các triệu chứng tiến triển và không ngừng nặng hơn, trong một khoảng thời gian nào đó nó có thể chấm dứt nhưng bệnh không khỏi hoàn toàn. Viêm cột sống dính khớp nếu không được điều trị có thể khiến bệnh nhân bị dính khớp, gù lưng, tê liệt hai chân và làm giảm khả năng sinh sản.

Giống như nhiều bệnh về xương khớp khác, viêm cột sống dính khớp hiện nay cũng chưa tìm được nguyên nhân cụ thể. Một số nghiên cứu và suy đoán ban đầu cho rằng nguyên nhân gây bệnh có thể bắt nguồn từ một số yếu tố sau:

Do vi khuẩn: Các vi khuẩn ở đường tiêu hóa và đường niệu dục có thể kể đến như Gonococcus, Yersinia, Salmonella, Chlamydia… được xem là một trong những tác nhân gây bệnh.

Ảnh hưởng của cơ địa: Bệnh chủ yếu xảy ra ở nam giới dưới tuổi 30 (chiếm đến 90%) tổng các ca bệnh. Bệnh cũng có liên quan mật thiết với kháng nguyên HLA-B27 dương tính và âm tính. Theo nghiên cứu, có khoàng 20% người mang HLA-B27 mắc viêm cột sống dính khớp.

Các yếu tố thuận lợi khác như chấn lương, nhiễm trùng, sống trong môi trường ẩm thấp, thiếu vệ sinh cũng có thể tạo điều kiện cho bệnh phát triển.

Viêm cột sống dính khớp có di truyền không?

Bệnh viêm cột sống dính khớp có di truyền không?
Bệnh viêm cột sống dính khớp có di truyền không?


Như đã nói, kháng nguyên HLA-B27 có mối quan hệ mật thiết với bệnh viêm cột sống dính khớp. Gen này chịu ảnh hưởng đặc biệt của yếu tố di truyền, và nó cũng đồng nghĩa với việc viêm cột sống dính khớp di truyền là sự thật. Tuy nhiên tỉ lệ này chỉ khoảng 50%.

Theo nghiên cứu khoa học, kháng nguyên HLA phân bố chủ yếu ở màng của các tế bào có nhân như da, lá lách, tim, thận, phổi… HLA-B27 là 1 trong 92 loại HLA của cơ thể. Khi HLA-B27 kết hợp với một số ảnh hưởng từ các tác nhân ngoài môi trường sẽ có nguy cơ gây ra bệnh viêm cột sống dính khớp. 

Ở thế hệ con cháu của họ, nếu như cũng mang HLA-B27 dương tính thì tỉ lệ bị bệnh sẽ cao hơn gấp 40 lần so với người bình thường. Ở người mang HLA-B27 âm tính, chỉ có 10% mắc bệnh, bằng ½ thể dương tính. Như vậy, người mang HLA-B27 không chắc chắn mắc bệnh viêm cột sống dính khớp. Và tỉ lệ bị di truyền ở con cháu của họ cũng không phải là 100%. Chữa thần kinh tọa bằng Đông y http://coxuongkhoppcc.com/chua-kinh-toa-bang-dong-y.html

Viêm cột sống dính khớp ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, cuộc sống và chức năng sinh sản của người bệnh. Chúng ta chưa có vacxin phòng bệnh, nên con của những người bệnh này cần được đi khám sớm để xem xét bệnh viêm cột sống dính khớp có di truyền không. Áp dụng các biện pháp hỗ trợ điều trị từ sớm sẽ làm giảm ảnh hưởng của bệnh đến cuộc sống bình thường.

Với nam giới dưới 30 tuổi khi thấy các dấu hiệu của viêm cột sống dính khớp cần đến gặp bác sĩ để được điều trị. Nhiều người cứ để những triệu chứng đau lưng âm ỉ diễn ra trong vài năm, đến khi đi khám thì các khớp đã dính lại theo dạng đốt tre không thể khắc phục được. Vì thế, viêm cột sống dính khớp là căn bệnh diễn ra âm thầm nhưng lại vô cùng nguy hiểm.

Trong chế độ ăn uống, người viêm cột sống dính khớp nên tránh xa bia rượu, thuốc lá và các chất kích thích khác. Nên bổ sung vào thực đơn ăn uống của mình các món giàu canxi, vitamin D, đồng thời chú ý kiểm soát cân nặng. Kết hợp với các bài tập thể dục nhẹ nhàng đều đặn cũng là việc nên làm.

►Xem thêm: Đa u tủy xương

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Trị thoát vị đĩa đệm bằng thuốc nam

Bệnh thoát vị gây nên những cơn đau nhức thường xuyên và âm ỉ. Tùy theo từng vị trí bị thoát vị người ta có thể chia ra từng trường hợp khác nhau, về cơ bản bệnh thoát vị đĩa đệm được chia thành hai vùng Bệnh thoát vị đĩa đệm cột sống cổ: Bệnh nhân thường có triệu chứng đau dọc vùng gáy, đau mỏi nhừ kéo sang bả vai và cánh tay. Có những bệnh nhân có cảm giác tê bì dọc cánh tay, thậm chí kéo tới làm tê bì mất cảm giác của bàn tay, đốt ngón tay. Có người bệnh còn có triệu chứng đau bốc lên đỉnh đầu, thậm chí hoa mắt, chóng mặt, đau tức hốc mắt. Bệnh thoát vị đĩa đệm thắt lưng: Bệnh nhân có biểu hiện đau vùng ngang thắt lưng, đau liên sườn. Ngoài ra bệnh nhân còn có biểu hiện đau dọc vùng mông kéo xuống chân, có thể gây tê bì chân hoặc có nhưng cơn đau rút chân khi cúi, ngửa.. Có người bệnh khi ngồi lâu, thường bị những cơn đau lưng dữ dội, phải nằm nghiêng bất động. Chữa bệnh thoát vị đĩa đệm bằng thuốc nam Chúng tôi sẽ giới thiệu cho bạn đọc 2 bài thuốc nam thành phần dư...

Gai gót chân

Bệnh gai gót chân do ở xương gót chân có hiện tượng bù đắp canxi dần dần tại những nơi có vi chấn thương trên xương gót (do áp lực của việc di chuyển, đi lại, mang vác, tì đè cơ thể...). Bệnh hay gặp ở người thừa cân, béo phì, tuổi trung niên, vận động viên điền kinh, người có tật bẩm sinh ở chân. Trên hình ảnh Xquang có thể thấy hình gai xương mọc ra ở xương gót. Gai xương tác động vào tổ chức phần mềm dưới da, là một cân cơ dày, có thể làm viêm các tổ chức mô đệm ở xung quanh gai xương gây nên triệu chứng đau, nếu có viêm tổ chức mô đệm xung quanh thì đau xuất hiện cả khi nghỉ ngơi và đau tăng khi đi lại. Vì sao bị gai xương gót? Đối với người lao động mang vác nặng trong một thời gian dài hoặc ở những vận động viên khởi động chưa kỹ, sức nặng cơ thể sẽ đè quá mức vào vùng bắp chân và gân cơ Achille và tập trung vào vùng gót chân. Khi cơ cẳng chân và gân Achille bị quá tải sẽ làm căng cân cơ vùng gan chân dẫn đến phản ứng viêm quanh gân, thậm chí làm đứt gân cơ. Để chống lại ...

Loạn dưỡng cơ

Nghiên cứu kỹ tiền sử gia đình về bệnh cơ có thể giúp bác sĩ chẩn đoán bệnh. Ngoài nghiên cứu tiền sử gia đình và khám thực thể, bác sĩ có thể dựa vào các khám xét sau để chẩn đoán loạn dưỡng cơ: Xét nghiệm máu: Các cơ bị tổn thương giải phóng enzym creatin kinase (CK) vào máu. Nồng độ CK trong máu cao gợi ý một bệnh cơ như loạn dưỡng cơ. Ghi điện cơ: Một điện cực hình kim mảnh được xuyên qua da vào cơ để kiểm tra. Ðo hoạt động điện khi nghỉ ngơi và khi căng cơ nhẹ. Những thay đổi trong mô hình hoạt động điện có thể xác định bệnh cơ. Có thể xác định sự phân bố của bệnh dựa trên việc kiểm tra các cơ khác nhau. Sinh thiết cơ: Một mẫu cơ nhỏ được lấy để phân tích trong phòng thí nghiệm. Việc phân tích này phân biệt loạn dưỡng cơ với các bệnh cơ khác. Các xét nghiệm đặc hiệu có thể xác định dystrophin và các chỉ báo khác có liên quan với những dạng loạn dưỡng cơ đặc trưng. Xét nghiệm gen: Một số dạng loạn dưỡng cơ có thể được chẩn đoán bằng cách xác định gen bất thường thông qua p...