Chuyển đến nội dung chính

Điều trị viêm màng bao hoạt dịch khớp gối

Bao hoạt dịch là phần mặt trong của khớp, chúng giống như một tấm nệm nằm ngay phần khớp nối các 2 đầu khớp. Cấu tạo có vô số các xơ sợi mềm mại kèm với mỡ, chúng có khả năng tiết dịch giúp các chuyển động trại khớp trơn tru và thuận lợi hơn. 

Không chỉ có vậy, dịch tiết từ bao hoạt dịch còn có tác dụng nuôi dưỡng các mô khớp, chống khuẩn, kháng viêm. Màng hoạt dịch là lớp trong cùng của bao hoạt dịch, rất nhiều trường hợp bị viêm màng bao hoạt dịch khớp gối.
, khớp cổ tay, bả vai, hông, phần gót chân, khủy tay,…

Nguyên nhân gây viêm bao hoạt dịch, viêm màng hoạt dịch chủ yếu do người bệnh thường xuyên thực hiện những động tác giống nhau trong suốt thời gian dài hoặc những đối tượng cao tuổi, xương cốt bị lão hóa cũng dễ viêm bao hoạt dịch. Thủ phạm là các bệnh lý như viêm khớp, bệnh đái tháo đường, bệnh gout.

Dấu hiệu nhận biết bệnh viêm bao hoạt dịch

Người bệnh cảm thấy vị trí khớp bị đau nhức, tê cứng.

Mỗi lần di chuyển hoặc khi nhấn vào sẽ bị đau nhiều hơn.

Có sưng tấy và nóng đỏ ở khớp.

Khi có kèm các triệu chứng dưới đây hãy báo cho bác sĩ điều trị:

Bị đau khớp dù không tác động.

Cơn đau nhức khó chịu bị liên tục trong 1-2 tuần.

Cảm thấy đau nhói, chú ý những khi tập thể dục.

Chỗ khớp có tổn thương sưng nghiêm trọng, đỏ tấy hay thậm chí tìm bầm hoặc có nổi mẩn, phát ban khu vực xung quanh.

Người bệnh lên cơn sốt.

Thuốc chữa và cách điều trị viêm bao hoạt dịch khớp gối, cổ tay

Điều trị viêm màng bao hoạt dịch khớp gối
Điều trị viêm màng bao hoạt dịch khớp gối 


Bị viêm bao hoạt dịch khớp cổ tay, khớp gồi và nhiều khớp khác có thể khắc phục bằng các loại thuốc đặc trị hoặc thực hiện phẫu thuật kết hợp với lối sống khoa học. Nếu bệnh nhân thực hiện đúng yêu cầu chữa trị thì kết quả sẽ khả quan.

Chỉ định thuốc: sau các bước kiểm tra, chụp chiếu cần thiết, nếu phát hiện nguyên nhân gây bệnh do tình trạng nhiễm trùng thì bệnh nhân được yêu cầu dùng thuốc khánh sinh.

Tiêm thuốc vào khớp: thường dùng thuốc corticosteroid, trực tiếp đưa mũi kim vào bao hoạt dịch. Nhóm thuốc này có tác dụng giảm đau, cải thiện viêm nhiễm.

Áp dụng vật lý trị liệu: tùy vào tình trạng bệnh nhân mà phương pháp này sẽ được yêu cầu thực hiện. Ngoài các bước trị liệu cụ thể người bệnh có thể được hướng dẫn một số bài tập riêng biệt cơ bắp tăng độ bền, dẻo dai từ đó giúp giảm chấn thương, phóng tránh tái phát sau này. Viêm khớp dạng thấp có chữa được không http://coxuongkhoppcc.com/viem-khop-dang-thap-co-chua-duoc-khong.html
Phẫu thuật bao hoạt dịch: chỉ được thực hiện khi thực sự cần thiết, bác sĩ cho dẫn dịch ra bên ngoài kết hợp thêm một số thuốc đặc trị.

Các biện pháp cải thiện:

Những nguyên tắc sau nên áp dụng nếu bạn bị u bao hoạt dịch khớp cổ tay, viêm bao hoạt dịch khớp gối, tay, chân, hông, vai,… Chúng sẽ giúp cải thiện bệnh tình đáng kể.

Tăng cường nghỉ ngơi, ngay tại vị trí khớp bị tổn thương cần bất động để chúng có thời gian phục hồi.

Giảm sưng đau hiệu quả có thể dùng cách áp nước đá trực tiếp.

Nếu tổn thương ở đầu gối nên kê nệm êm nhỏ (hay gối) ở giữa 2 chân.

Có thể dùng thêm thuốc chống viêm với thuốc giảm đau nhưng cần được tư vấn liều dùng và loại thuốc hợp lý. Khi ngồi, nằm, đứng hay bất cứ hoặt động nào cũng phải để ý, tránh vô tình gây áp lực lên những vị trí khớp tổn thương.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Trị thoát vị đĩa đệm bằng thuốc nam

Bệnh thoát vị gây nên những cơn đau nhức thường xuyên và âm ỉ. Tùy theo từng vị trí bị thoát vị người ta có thể chia ra từng trường hợp khác nhau, về cơ bản bệnh thoát vị đĩa đệm được chia thành hai vùng Bệnh thoát vị đĩa đệm cột sống cổ: Bệnh nhân thường có triệu chứng đau dọc vùng gáy, đau mỏi nhừ kéo sang bả vai và cánh tay. Có những bệnh nhân có cảm giác tê bì dọc cánh tay, thậm chí kéo tới làm tê bì mất cảm giác của bàn tay, đốt ngón tay. Có người bệnh còn có triệu chứng đau bốc lên đỉnh đầu, thậm chí hoa mắt, chóng mặt, đau tức hốc mắt. Bệnh thoát vị đĩa đệm thắt lưng: Bệnh nhân có biểu hiện đau vùng ngang thắt lưng, đau liên sườn. Ngoài ra bệnh nhân còn có biểu hiện đau dọc vùng mông kéo xuống chân, có thể gây tê bì chân hoặc có nhưng cơn đau rút chân khi cúi, ngửa.. Có người bệnh khi ngồi lâu, thường bị những cơn đau lưng dữ dội, phải nằm nghiêng bất động. Chữa bệnh thoát vị đĩa đệm bằng thuốc nam Chúng tôi sẽ giới thiệu cho bạn đọc 2 bài thuốc nam thành phần dư...

Gai gót chân

Bệnh gai gót chân do ở xương gót chân có hiện tượng bù đắp canxi dần dần tại những nơi có vi chấn thương trên xương gót (do áp lực của việc di chuyển, đi lại, mang vác, tì đè cơ thể...). Bệnh hay gặp ở người thừa cân, béo phì, tuổi trung niên, vận động viên điền kinh, người có tật bẩm sinh ở chân. Trên hình ảnh Xquang có thể thấy hình gai xương mọc ra ở xương gót. Gai xương tác động vào tổ chức phần mềm dưới da, là một cân cơ dày, có thể làm viêm các tổ chức mô đệm ở xung quanh gai xương gây nên triệu chứng đau, nếu có viêm tổ chức mô đệm xung quanh thì đau xuất hiện cả khi nghỉ ngơi và đau tăng khi đi lại. Vì sao bị gai xương gót? Đối với người lao động mang vác nặng trong một thời gian dài hoặc ở những vận động viên khởi động chưa kỹ, sức nặng cơ thể sẽ đè quá mức vào vùng bắp chân và gân cơ Achille và tập trung vào vùng gót chân. Khi cơ cẳng chân và gân Achille bị quá tải sẽ làm căng cân cơ vùng gan chân dẫn đến phản ứng viêm quanh gân, thậm chí làm đứt gân cơ. Để chống lại ...

Loạn dưỡng cơ

Nghiên cứu kỹ tiền sử gia đình về bệnh cơ có thể giúp bác sĩ chẩn đoán bệnh. Ngoài nghiên cứu tiền sử gia đình và khám thực thể, bác sĩ có thể dựa vào các khám xét sau để chẩn đoán loạn dưỡng cơ: Xét nghiệm máu: Các cơ bị tổn thương giải phóng enzym creatin kinase (CK) vào máu. Nồng độ CK trong máu cao gợi ý một bệnh cơ như loạn dưỡng cơ. Ghi điện cơ: Một điện cực hình kim mảnh được xuyên qua da vào cơ để kiểm tra. Ðo hoạt động điện khi nghỉ ngơi và khi căng cơ nhẹ. Những thay đổi trong mô hình hoạt động điện có thể xác định bệnh cơ. Có thể xác định sự phân bố của bệnh dựa trên việc kiểm tra các cơ khác nhau. Sinh thiết cơ: Một mẫu cơ nhỏ được lấy để phân tích trong phòng thí nghiệm. Việc phân tích này phân biệt loạn dưỡng cơ với các bệnh cơ khác. Các xét nghiệm đặc hiệu có thể xác định dystrophin và các chỉ báo khác có liên quan với những dạng loạn dưỡng cơ đặc trưng. Xét nghiệm gen: Một số dạng loạn dưỡng cơ có thể được chẩn đoán bằng cách xác định gen bất thường thông qua p...